оформить займ онлайн на карту без отказа кредит онлайн наличными срочно
You are here: Tư liệu nghiên cứu Ngoại giao Khảo sát ghi chép về mối quan hệ Việt – Trung trong ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ大越史記全書 (VIỆT NAM) và MINH THỰC LỤC 明實錄 (TRUNG QUỐC)

Khảo sát ghi chép về mối quan hệ Việt – Trung trong ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ大越史記全書 (VIỆT NAM) và MINH THỰC LỤC 明實錄 (TRUNG QUỐC)

Email In PDF.

Khảo sát ghi chép về mối quan hệ Việt – Trung

trong ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ大越史記全書 (VIỆT NAM) và MINH THỰC LỤC 明實錄 (TRUNG QUỐC)[1]

NNC. Phạm Hoàng Quân (Việt ngữ)

NCS. Bùi Phan Anh Thư (Hàn ngữ)


Mục lục


1. Dẫn nhập

2. Sơ lược về Minh Thực Lục明實錄

3. Sơ lược về Đại Việt Sử ký toàn thư 大越史記全書

4. Khảo sát những ghi chép về cùng một sự kiện trong Đại Việt sử ký toàn thư Minh thực lục

5. Những bổ túc cần thiết từ Minh thực lục cho Đại Việt sử ký tòan thư và những lưu ý khi khảo cứu hai nguồn sử liệu

6. Kết luận


Thư mục tham khảo



  1. 1. Dẫn nhập


Sử biên chép của Việt Nam ra đời muộn hơn Trung Hoa hàng ngàn năm, các nhà viết sử Việt Nam từ lúc khởi đầu đã không ngại thu thập sử liệu cổ xưa của mình qua những ghi chép của người Trung Hoa, những sự kiện trong chính sử như Sử Ký, Hán Thư …cùng những biên chép trong các sách địa dư như Giao Châu ký, Nam Việt chí …từng được trích lục và được coi là những thành tố quan trọng trong giai đoạn đầu của thông sử Việt Nam.

Giai đoạn sử Việt định hình độc lập gần như tương ứng với thời kỳ nhà nước Đại Việt dựng nền tự chủ, những biên chép về thời nhà Đinh nhà Tiền Lê và nhà Lý ngày càng giảm dần các sử liệu Trung Hoa. Đại Việt Sử ký ra đời như một điểm mốc đánh dấu giai đoạn trưởng thành của tầng lớp trí thức/ sử gia một thời đại, thời Trần. Tiến trình lịch sử của đất nước được ghi nhận trực tiếp bởi những người sinh sống trên đất nước của mình.

Việc khai thác các nguồn tư liệu lịch sử đồng đại để bổ túc lẫn nhau hoặc soi xét quá khứ luôn là một công việc hấp dẫn giới sử học. Những góc nhìn khác nhau trên cùng một sự kiện hoặc cách ghi nhận sự kiện theo những quan điểm riêng, thậm chí đối nghịch, đều có giá trị trong nghiên cứu. Một khoảng lịch sử Việt Nam được biên chép trong Đại Việt Sử ký toàn thư được đưa ra so sánh với những ghi chép tương quan trong Minh Thực lục trong bài viết này nhằm vào hai mục tiêu, đầu tiên là tiếp thu nguồn sử liệu Minh Thực lục để mở rộng sự hiểu biết hoặc lý giải một số vấn đề hoặc sự kiện mà Toàn thư chép quá sơ lược; thứ đến, do trong giai đoạn lịch sử này các sử quan của hai nước biên chép độc lập nên chúng tôi dựa trên tinh thần bình đẳng đối với các nguồn sử liệu, phân tích một số sự kiện dựa trên cả hai nguồn nhằm đem đến một góc nhìn khách quan hơn đối với từng sự kiện.

Đây là công việc cần thực hiện lâu dài và liên tục, bản tham luận này có thể xem như một phác thảo thí dụ cho loại hình nghiên cứu đối chiếu các nguồn sử liệu đồng đại cùng với những dẫn chứng cụ thể trích trong hai nguồn sử liệu Minh thực lụcĐại Việt sử ký toàn thư.

Về nguồn tài liệu Minh thực lục, trong quá trình tham khảo văn bản gốc để so sánh, đối chiếu trong bài viết, chúng tôi căn cứ vào Minh thực lục bản in Đài Bắc 1962-1963. Bản dịch Việt văn những điều mục có quan hệ đến lịch sử Việt Nam trích từ Minh thực lục xuất bản lần đầu vào năm 2010 tại Hà Nội (Minh thực lục, quan hệ Trung Quốc- Việt Nam thế kỷ XIV- XVII (3 tập), Hồ Bạch Thảo dịch và chú thích - Phạm Hoàng Quân hiệu đính, bổ chú và giới thiệu, nxb Hà Nội, 2010) cũng là cơ sở tham khảo quan trọng cho bài viết này.

Về tài liệu nguồn Đại Việt sử ký toàn thư nhằm trích dẫn cho tham luận này, bản dịch Việt văn trọn bộ Đại Việt sử ký toàn thư xuất bản lần đầu năm 1967 tại Hà Nội (Đại Việt sử ký toàn thư (4 tập), Cao Huy Giu dịch - Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo chứng, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967) là cơ sở tham khảo của chúng tôi trong bài viết này.


2. Sơ lược về Minh Thực Lục明實錄


Thực lục thuộc loại biên niên sử, chuyên ghi chép những sự kiện lớn nhỏ trong suốt thời gian trị vì của một hoàng đế, Thực lục sớm nhất xuất hiện thời nhà Lương (Nam Triều) 梁 (南 朝)với bộ Lương Hoàng đế Thực lục 梁 皇 帝 實 錄do Chu Hưng Tự 周 興 嗣soạn, chép về sự việc triều Lương Võ Đế  梁 武 帝(501-520), sau đó là bộ Lương Hoàng đế Thực lục chép sự việc triều Lương Nguyên Đế 梁 元 帝 (552-555) do Tạ Hạo 謝 昊soạn[2]. Từ đầu đời Đường về sau, sau khi hoàng đế mất, vua kế vị lập Thực lục quán và bổ nhiệm các chức vụ cho sử quan để biên soạn Thực lục về đời vua trước, các thời Ngũ đại 五代, Tống 宋, Liêu 遼, Kim 金, Nguyên元, Minh 明, Thanh 清đều theo phép ấy mà soạn Thực lục, đến triều Quang Tự 光緒cuối đời Thanh thì dừng. Thực lục các loại, các đời kể trên cộng hơn 110 bộ, tuyệt đại đa số đã mất. Kho tàng sử thư Trung Hoa ngày nay chỉ còn Thực lục hai triều Minh, Thanh là toàn vẹn.

Theo quy chế đương thời, Thực lục một triều vua được biên soạn sau khi vua triều ấy mất, cử bậc danh thần giữ chức Giám Tu 監修[giám sát việc biên soạn], đại thần trong nội các giữ chức Tổng tài 總裁 [chủ trì việc biên soạn], Hàn lâm viện học sĩ giữ chức phó tổng tài, các thành viên tham gia biên soạn được lấy từ Nội các, Hàn lâm viện, Thiêm sự phủ 詹事府, Lễ  bộ và Kinh cục ty 經局司. Nguồn tư liệu để biên soạn Thực lục được lấy từ những chỉ dụ 指諭, tấu nghị lưu ở nội phủ và nội các, các văn bản khởi cư chú, nhật lịch của sử quán,  hồ sơ ở các ty sở, nha môn, vương phủ, sự tích, mộ chí, dã sử…. Bản tổng hợp lần đầu [sơ cảo/ 初稿] giao cho phó tổng tài đọc và cắt, chữa, sau đó giao bản đã sửa chữa cho tổng tài nhuận sắc, bản đã nhuận sắc gọi là bản “định cảo / 定稿”. Bản định cảo của tổng tài được sao thêm 1 bản [phó bản], 2 bản này dâng lên vua còn bản sơ cảo thì đốt đi. Bản định cảo tức bản chánh được giữ ở nội phủ, bản sao tức phó bản được giữ ở nội các, không khắc in.

Nội dung Thực lục ghi chép rất rộng, gồm: chính sách pháp lệnh, điển chương chế độ, việc sách lập hoàng thái hậu, hoàng phi, hoàng thái tử, sách phong quận vương, vương phi, công chúa; việc hoàng đế tuần thú biên cương hoặc thân chinh, cùng các loại lễ nghi, tế tự; đất đai của các thân vương, việc phong tước và thế tập, văn võ đại thần tước công, hầu, bá tật bệnh về hưu; việc phong chức cho hàng tam công 三公, tam thiếu 三少, 2 kinh, 5 phủ, 6 bộ, đô sát viện 都察院và quan viên cao cấp ở trung ương và địa phương; việc lập mới hoặc bãi bỏ, sáp nhập nha môn các cấp; sự lai vãng của các bộ tộc ở biên cương; việc triều cống, giao thiệp hoặc buôn bán của các nước lân cận; nguyên nhân và diễn biến các cuộc chiến tranh; tiểu truyện các nhân vật trọng yếu; thiên văn, địa lý, khí tượng, thủy lợi, thuế khóa, nhân khẩu, điền thổ, trồng trọt, chăn nuôi, vận chuyển, đồn điền, thương mại… Các lĩnh vực, sự kiện, hiện tượng trong mỗi điều mục được biên chép một cách có đối chiếu và hệ thống, vì thế Minh Thực lục được xem là nguồn tư liệu tối cơ bản trong việc nghiên cứu lịch sử nhà Minh.[3]

Minh Thực lục chưa từng được khắc in, nên chỉ lưu hành bản chép tay. Đương thời, chánh bản được lưu trữ trong tòa Hoàng Sử Thành 皇史宬[4] là nơi cất chứa ngự bút 御筆của các vua tiền triều cùng tài liệu cơ mật. Phó bản được cất giữ ở nội các, dùng làm tài liệu tham khảo riêng cho các quan tham gia biên soạn Thực lục của các đời vua tiếp theo. Năm Vạn Lịch 萬歷 thứ 6 (1578), có chỉ dụ cho sao chép Thực lục cỡ nhỏ, nhân vụ này, Thực lục của 10 triều trước đó được sao chép rộng rãi. Các bản lưu hành đến nay đa số là những bản sao hoặc sao lại của đợt sao chép năm 1578, chánh bản ở Hoàng Sử Thành và phó bản ở nội các đều không còn nguyên vẹn, vì chuyển sao nhiều lần nên nội dung Minh Thực lục không ít chỗ sai biệt.[5]

Ngoài ra, Thanh Sử cảo- Nghệ văn chí 清史稿- 藝文志còn ghi nhận các bộ Thực lục do tư nhân biên soạn, chép việc cuối đời Minh và triều Vĩnh Lịch 永歷(1647-1661), là các bộ Minh Quý Thực lục 明 季 實 錄6 quyển do Cố Viêm Võ 顧 炎 武soạn, Vĩnh Lịch Thực lục 永 歷 實 錄25 quyển do Hoàng Tông Hy 黃 宗 羲soạn, Vĩnh Lịch Thực lục 26 quyển do Vương Phu Chi 王 夫 之soạn[6]. Các thực lục trên ứng với giai đoạn mà sử Trung Quốc gọi là thời kỳ Nam Minh南明 (1644- 1661), lúc này người Mãn đã làm chủ Trung Hoa, hậu duệ họ Chu chỉ còn giữ được vài vùng đất ở mấy tỉnh phía Nam.

Minh Thực lục được biên soạn trong suốt 13 triều vua nhà Minh, từ Thái Tổ đến Hy Tông, cộng được 3.053 quyển và phụ thêm Hoài Tông Thực lục 懷宗實錄gồm 17 quyển chép việc triều Sùng Trinh 崇禎 (1628 – 1644) được biên soạn sau này. Minh Thực lục là tên gọi chung của 13 bộ về 13 đời vua[7], bốn bộ dùng khảo sát trong bài viết này thuộc vào bốn triều Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Tuyên Tông, năm biên soạn và người chủ trì biên soạn tóm lược như sau:


 Thái Tổ Thực lục 太 祖 實 錄, 257 quyển, chép sự việc triều Hồng Vũ 洪 武và Kiến Văn 建 文 (1368 – 1402). Minh Thái tổ họ Chu 朱 , tên Nguyên Chương 元 璋sinh năm 1328, lên ngôi năm 1368, đặt quốc hiệu là Minh, niên hiệu Hồng Vũ. Minh Huệ đế tên Duẫn Văn 允 炆, cháu nội của Nguyên Chương, năm 1399 đổi niên hiệu Kiến Văn, mất năm 1402 trong cuộc chính biến gây ra bởi người chú. Thái tổ thực lục biên soạn trong khoảng niên hiệu Kiến Văn (1399-1402) do Vương Cảnh 王 景làm tổng tài [chủ biên], đầu niên hiệu Vĩnh Lạc trùng tu lần thứ nhất do Giải Tấn 解 縉làm Tổng tài, năm Vĩnh Lạc thứ chín (1411) trùng tu lần thứ hai, do Dương Sĩ Kỳ 楊 士 奇làm Tổng tài, đến năm 1418 hoàn thành. Bản Thái Tổ Thực lục lưu hành hiện nay là bản do Dương Sĩ Kỳ trùng tu lần hai.

‚ Thái Tông Thực lục 太 宗 實 錄, 274 quyển, chép sự việc triều Vĩnh Lạc 永 樂 (1403 – 1424), do Dương Sĩ Kỳ làm Tổng tài làm xong năm Tuyên Đức thứ năm (1430). Thái Tông sử còn gọi Minh Thành tổ,

ƒ Nhân Tông Thực lục 仁 宗 實 錄 , 10 quyển, chép sự việc triều Hồng Hi 洪 熙 (1424 – 1425), do Dương Sĩ Kỳ làm Tổng tài, làm xong năm 1430.

„ Tuyên Tông Thực lục 宣 宗 實 錄, 115 quyển, chép sự việc triều Tuyên Đức 宣 德 (1426 – 1435) do Dương Sĩ Kỳ làm Tổng tài, làm xong năm 1438.


Toàn bộ Minh Thực lục [13 bộ] với khoảng 40.000 trang chép tay, bản in chụp lần đầu vào năm 1942 do Lương Hồng Chí 梁鴻志tổ chức thực hiện. Bản in chụp lần thứ hai được bổ khuyết và hiệu khám cẩn thận, Mimh thực lụcMinh Thực lục hiệu khám ký明實錄校勘記 xuất bản cùng lúc tại Đài Bắc từ năm 1962 đến năm 1966. Lần lượt là, Thái Tổ thực lục 1962, Thái Tông thực lục, Nhân Tông thực lục, Tuyên Tông thực lục 1963.


3. Sơ lược về Đại Việt Sử ký toàn thư 大越史記全書

Đại Việt Sử ký toàn thư [Toàn thư] được biết đến như là một bộ sử biên niên hoàn thiện nhất trong nhiều bộ sử được viết và viết về giai đoạn lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Về tính chất, Toàn thư mang tính Chính sử, điểm khác nhau giữa Chính sử Trung Hoa [Nhị thập tứ sử / 二十四史][8] và Chính sử Đại Việt là, chính sử Trung Hoa thuộc thể Kỷ Truyện [紀傳體 ] còn chính sử Đại Việt thuộc thể Biên Niên [編年體]. Toàn thư lại cùng thể biên niên với Minh Thực lục, nên việc đối chiếu so sánh các sự kiện được ghi chép bởi 2 bộ sử này – về kỹ thuật – khá thuận lợi.

Toàn thư gồm quyển Thủ và 24 quyển, chia làm 2 phần, phần Ngoại kỷ 5 quyển [外紀五卷] và phần Bản kỷ 19 quyển [本紀十九卷]. Ngoại kỷ chép việc từ thời huyền sử/ truyền thuyết 玄史/ 傳說họ Hồng Bàng 鴻龐氏 [năm 2.878 tr.cn] đến hết giai đoạn 12 Sứ quân  十二使君 [967 s.cn], Bản kỷ chép việc từ năm đầu nhà Đinh 丁朝 [968] đến gần cuối nhà Lê 黎朝 [1675]. Toàn thư là công trình được biên soạn kế tục bởi nhiều sử quan của của thời Trần và Lê. Việc biên soạn Toàn thư được thực hiện bởi sử quan của Quốc sử viện, vì vậy tuy bản gốc của mấy bộ sử ban đầu không còn, nhưng  dựa vào các biên chép trong Toàn thư, người ta biết được các tác giả trước sau và quá trình biên soạn Toàn thư khá cụ thể.

Toàn thư, Bản kỷ, quyển 5 cho biết vào năm 1272, đời vua Trần Thánh Tông 陳聖宗, sử quan Lê Văn Hưu 黎文休soạn xong bộ Đại Việt sử ký, chép việc từ năm Triệu Vũ đế [Đà] 趙武帝 [佗] lên ngôi [ 207 tr.cn] đến năm cuối nhà Lý 李[Lý Chiêu Hoàng 李昭皇, 1225][9]. Đây là cứ liệu về lần biên soạn thứ nhất của Toàn thư, tên sách ban đầu là Đại Việt sử ký, tác giả là sử quan Lê Văn Hưu triều Trần, chép việc 1.432  năm trong lịch sử Việt Nam.

Toàn thư , Bản kỷ, quyển 11 cho biết vào năm 1455, vua Lê Nhân Tông  sai sử quan Phan Phu Tiên 潘孚先soạn Đại Việt sử ký từ năm đầu triều Trần [1226] đến khi người Minh rút quân về nước [1427][10]. Lần biên soạn thứ 2 của Toàn thư chép tiếp theo 200 năm này còn được gọi là Sử ký tục biên 史記續編.

Toàn thư, quyển Thủ, bài Biểu dâng sách của Ngô Sĩ Liên 吳士連cho biết vào năm 1479, biên soạn xong bộ Đại Việt sử ký toàn thư 15 quyển[11], Trong lần biên soạn thứ 3 này, Ngô Sĩ Liên chỉnh lý, bổ sung và hệ thống lại 2 bộ trước, viết thêm phần Ngoại kỷ (phần đầu) từ họ Hồng Bàng đến hết đời An Dương Vương 安陽王, định hình, sắp xếp lại số quyển và đặt tên gọi Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên đã kết nối cho dòng lịch sử của dân tộc từ lúc khởi nguồn cho đến năm 1427, làm cho bộ Đại Việt sử ký toàn thư trở thành bộ quốc sử chính thức, các sử quan về sau chỉ chép nối thêm.

Các sử quan sau này là Vũ Quỳnh 武瓊, Phạm Công Trứ 范公著, Lê Hy 黎僖, Nguyễn Quý Đức阮貴德, Lê Tung 黎嵩đã gia công chỉnh lý, đính chính các phần đã viết, chép nối thêm phần Bản kỷ thực lục 本紀實錄từ lúc Lê Thái tổ 黎太祖lên ngôi năm 1428 đến năm 1532 và Bản kỷ tục biên 本紀續編chép việc từ năm 1533 đến năm 1675.

Do các sử quan đời sau thay nhau chỉnh lý thêm bớt và viết lại mà không lưu giữ nguyên bản các phần viết của người trước, nên trong Đại Việt sử ký toàn thư lưu hành hiện nay “phần viết của Lê Văn Hưu chỉ còn 30 đoạn trích dẫn, phần viết của Phan Phu Tiên còn lại 11 đoạn trích dẫn, phần viết của Ngô Sĩ Liên còn lại gồm lời Tựa, bài Biểu dâng sách và 166 đoạn trích”[12]. Nhìn chung, có thể coi đây là bộ sử được gia công bởi nhiều đời, ngoài những sử quan được hậu thế biết đến rộng rãi, còn là công sức của nhiều sử quan khác trong sử quán, cùng nhiều tư nhân mà các sử quan dùng biên chép của họ để tham khảo, đối chiếu.

Các phần viết mang tên Ngoại kỷ, Bản kỷ, Bản kỷ thực lục, Bản kỷ tục biên, các lời tựa, lời bàn, bài luận được kết tập lại với tên gọi chung là Đại Việt sử ký toàn thư 25 quyển, khắc in lần đầu vào thời Lê năm Chính Hoà 正和thứ 18 (1697), bản này được gọi là Nội các quan bản, lần khắc in thứ 2 vào thời Tây Sơn 西山năm Cảnh Thịnh景盛 thứ 8 (1800) với tên Đại Việt sử ký tiền biên (chỉ có 10 quyển)[13], và “ nhiều bản do Quốc tử giám 國子監đời Nguyễn khắc in theo bản in năm Chính Hoà thứ 18”[14]. Một bản in chữ rời tại Nhật Bản vào năm 1884 (Minh Trị thứ 17) do Dẫn Điền Lợi Chương [ 引田利章/ Hikida Toshiaki] đề tựa, phàm lệ và hiệu đính chấm câu[15].

Bài viết này giới hạn thời gian trong 60 năm [1368- 1428], tức nhằm vào phần viết của Phan Phu Tiên - người đã biên soạn tiếp lần 2 của bộ Toàn thư- và ông cũng là người sống trong giai đoạn lịch sử mà chúng tôi đối chiếu, khảo sát. Các tác giả của Toàn thư về sau này có thể làm biến dạng nguyên văn những biên chép của Phan Phu Tiên, tuy nhiên những dữ liệu ban đầu của ông vẫn là thành phần nền tảng, lý do này cho phép chúng ta đặt ông vào địa vị một sử gia quan trọng đối với chủ đề này.

Phan Phu Tiên, tự Tín Thần 信臣, hiệu Mặc Hiên墨軒 không rõ năm sinh năm mất, người làng Đông Ngạc 東鄂, huyện Từ Liêm 慈廉, Hà Nội 河内. Đỗ Thái học sinh太學生năm 1396 đời Trần Thuận Tông 陳順宗, 33 năm sau trúng tuyển kỳ thi Minh kinh 明經đầu tiên của triều Lê (1429), được bổ nhiệm chức An phủ phó sứ 安撫副使phủ Thiên Trường 天長. Năm 1448  về kinh nhậm Quốc tử giám Bác sĩ 國子監博士 [giảng dạy Đại học quốc gia] kiêm nhiệm quản lý Quốc sử viện 國史院. Năm 1455, Lê Nhân Tông黎仁宗 “ sai Phan Phu Tiên soạn Đại Việt sử ký từ Trần Thái Tông đến khi người Minh về nước”. Các mốc thời gian cho thấy Phan Phu Tiên trưởng thành cuối thời Trần, sống qua thời gian bị nhà Minh đô hộ, và vâng mệnh vua soạn sử lúc đã gần 80 tuổi.

Trong giới hạn của bài viết này, chúng tôi chỉ nêu mấy nét đại cương về lịch sử hình thành của bộ sử, không thể đi sâu vào việc bình luận ý nghĩa/ giá trị nội dung hoặc tình trạng các văn bản. Bản Hán văn nguyên tác dùng đối chiếu căn cứ vào bản khắc in năm Chính Hoà thứ 18 vốn đã phổ biến, bản này in chung trong bản dịch Việt văn năm 1993 và tái bản năm 2010.


4. Khảo sát những ghi chép về cùng một sự kiện trong Đại Việt sử ký tòan thư Minh thực lục


Đối với lịch sử nhà Minh, Minh Thực lục là một kho sử liệu đồ sộ, đề cập đến mọi hoạt động chính trị xã hội của triều đại, kho sử liệu này đã được các sử quan nhà Thanh khai thác triệt để để viết bộ Minh sử. Đối với lịch sử Việt Nam, Minh thực lục là một nguồn khá hấp dẫn về lịch sử bang giao giữa Minh - Đại Việt trong suốt 3 thế kỷ, lịch sử chiến tranh giai đoạn 1407- 1427; những ghi chép về dựng đặt, thay đổi địa danh hoặc cơ quan quản lý hành chính trong thời gian 20 năm nhà Minh đô hộ An Nam (1407-1427) cũng là nguồn tư liệu quan trọng đối với việc phục dựng và nghiên cứu lịch sử địa lý Việt Nam. Ngoài việc tìm hiểu 3 vấn đề lớn đã nêu, những chi tiết nhỏ lẻ khác trong Minh Thực lục có giá trị bổ túc, mở rộng, tái xác định, xét lại nhiều chi tiết được biên chép trong Minh thực lục hoặc Toàn thư. Tất nhiên là các vấn đề đã nêu thuộc về một công trình khảo cứu rộng lớn và lâu dài, dưới đây chỉ điểm qua vài sự kiện tiêu biểu thuộc lĩnh vực bang giao và chiến tranh, hoặc sự kiện không hẳn là lớn nhưng có sự bất đồng của sử liệu trong cách ghi nhận của 2 sách Minh Thực lụcToàn thư.

Văn bản 1 trích trong Minh Thực lục:

Ngày 7 tháng 8 năm Hồng Vũ thứ 28 [22/8/1395]

Ngày Mậu thìn, sai Thượng thư bộ Lễ Nhậm Hanh Thái, Giám sát Ngự sử Nghiêm Chấn Trực đi sứ An Nam bảo cho biết về lý do đánh dẹp Triệu Tông Thọ tại Long Châu[16].

Hoàng Thượng bảo bọn Hanh Thái rằng: “Long Châu tiếp giáp với An Nam, nay đại quân đến sát biên giới, bọn họ sẽ nghi ngờ. Nên báo cho biết rằng tội Triệu Tông Thọ không thể tha được[17], An Nam nên cẩn thận phòng thủ biên giới, chớ âm mưu mở cửa dung nạp bọn giặc, nếu làm như mệnh lệnh của Trẫm thì rất may cho dân chúng nơi biên thùy.”

Bọn Hanh Thái đến An Nam, Trần Nhật Côn[18] nghe lệnh triều đình rất sợ hãi, bèn đưa thư cho Hanh Thái, như sau:

“Triều đình dùng chính sách nhu viễn với các nước xa, thương xót Man Di, răn dạy kẻ làm điều sai trái; tựa như đức hiếu sinh của trời đất cha mẹ. Còn hạ quốc là nước thiển lậu, với lòng thành sợ trời thờ bề trên, xin Các hạ[19] rộng lượng xét cho.”

Bọn Hanh Thái cũng nói thêm ý nghĩa việc triều đình dụng binh, để trấn an.

(Minh Thực lục, v. 8 ,tr. 3486-3487; Thái Tổ q. 240, tr. 1b-2a)


Nguyên văn:

“ 洪武二十八年, 八月, 戊辰

遣禮部尚書任亨泰監察御史嚴震直使安南諭以討龍州趙宗壽之故上謂亨泰等曰龍州地連安南大軍壓境彼必致疑宣告以趙宗壽之罪不可赦安南當慎守邊境毋啟納叛之諆若如朕命彼此邊徼之民皆幸矣亨泰等至安南陳日焜聞命畏恐即奉詔貽書亨泰等言朝廷懷柔遠邦怜恤蠻夷覆煦教戒不當如天地父母此皆好生之德也而陋邦下國畏天事上之誠惟閣下亮察而已亨泰等因復等敘朝廷所以用兵之意以慰安之”

[明太祖實錄 - 卷二四○- 頁 一, 二 ]



Văn bản 2 trích trong Minh thực lục:

Ngày 13 tháng 10 năm Hồng Vũ thứ 28 [25/11/1395]

Trước đây dùng binh đánh Triệu Tông Thọ tại Long Châu. Vì An Nam tiếp giáp với Long Châu, nên đã sai Thượng thư bộ Hình Dương Tĩnh đến hiểu dụ An Nam nạp 8 vạn thạch lương, mang đến Long Châu để trợ giúp quân. Đến nay Tĩnh tâu rằng: “ thần tới An Nam ra chỉ dụ, Quốc tướng nước này là bọn Lê Nhất Nguyên [Hồ Quý Ly][20] đều nói: ‘Nước chúng tôi đất hẹp dân ít, thuế ruộng chỉ đủ tự cấp, xin nguyện nạp gạo 1 vạn thạch, số còn lại xin nạp thay bằng 1.000 lạng vàng, 2 vạn lạng bạc. Lại nói năm trước nạp gạo tại Lâm An[21]; Lâm An có thể tới được bằng thuyền, nhưng chuyển vận 5.000 thạch gạo cũng không dễ dàng! Nay đường bộ tới Long Châu gian hiểm, xin chở đến động Bằng Tường[22].’

Thần dụ rằng:

‘Nay đưa nạp 2 vạn thạch gạo, chở đến sông Đà Hải[23]. Tiếp đến hành trình từ sông Đà Hải đến Long Châu chỉ mất nửa ngày. Lại hỏi thăm từ thôn Đà Hải tới địa giới Long Châu sông rộng đến 40 trượng, thuyền bè có thể đến được; riêng Khâu Ôn[24] hai bên bờ địa thế hiểm trở, không thể trữ lương tại đó; đã ra lệnh làm cầu nổi tại Long Châu để vận chuyển.’

Vương nước này tuổi nhỏ, nói không rành; mọi việc đều nằm trong tay viên Quốc tướng Lê Nhất Nguyên [Hồ Quý Ly] và con là Lê Trừng [Hồ Nguyên Trừng], chúng đưa ra hàng trăm điều xảo trá. Lại nghe tin rằng Triệu Tông Thọ được mang ơn tha thứ; hình như Tông Thọ chịu tội được tha, nên đại quân đã di chuyển sang chinh phạt Hướng Vũ[25] và các Man khác.”

Hoàng Thượng sai Hành nhân[26] đến dụ Tĩnh rằng hãy ra lệnh vận chuyển 2 vạn thạch lương tới Hướng Vũ; số vàng bạc xin nạp thay cho trả lại.

(Minh Thực lục v 8, tr. 3520-3521; Thái Tổ q. 242, tr. 3b-4a)


Nguyên văn:

“洪武二十八年, 十月, 癸卯.

先是兵征龍州趙宗壽以安南與龍州接壤遣前刑部尚書楊靖往諭安南輸

糧八萬石至龍州助軍餉至是靖奏言臣至安南諭旨其國相黎一元等咸言本國地狹民稀田賦僅可自給願輸米一萬石餘以金千两銀二萬两代輸且言昔歲輸米臨安臨安可通舟楫止運五千石猶不易致今龍州陸道艱險乞止運至憑祥洞臣諭令出米二萬石運至沲海江次沲海江去龍州程纔半日因詢及沲海村賓龍州所屬江闊四十丈舟棹可達丘温兩岸地勢崎險非可儲糧已令龍州造浮橋運輸其王年幼語言不通政事皆爲國相黎一元與其子澄所專狙詐百出頗聞趙宗壽已蒙恩宥是以觀望如此時宗壽已服罪謝過大軍移征向武等諸蠻上廼遣行人諭靖令運所輸米二萬石餉給奉議向武軍其代輸金銀則還之”               [ 明太祖實錄 - 卷二四二 - 頁 三, 四]

Văn bản 3 trích từ Minh thực lục

Ngày 6 tháng 2 năm Hồng Vũ thứ 29 [15/3/1396]

Ngày Giáp Ngọ, viên Thượng thư bộ Lễ Nhậm Hanh Thái đi sứ An Nam trở về bị giáng xuống Giám sát Ngự sử. Hanh Thái tại An Nam mua riêng người Man làm tôi tớ, nên bị giáng.

(Minh Thực lục, v 8, tr. 3544; Thái Tổ q. 244, tr. 3544)


“洪武二十九年, 二月, 甲午

禮部尚書任亨泰奉使安南還降為監察御史亨泰在安南私市蠻人為僕故降之”

[ 明太祖實錄 - 卷二四四 - 頁 四]


Văn bản 3 trích từ Toàn thư:

“Ất Hợi [Quang Thái] năm thứ 8 (1395) [Minh, Hồng Vũ thứ 28],tháng 6.

Nước Minh sai bọn Nhậm Hanh Thái sang xin giúp 5 vạn quân, 50 con voi, 50 vạn thạch lương tải đến địa đầu để cấp cho quân. Bấy giờ người Minh đánh người Man làm phản ở châu Phụng Nghiã[27] và Long Châu, ngầm làm kế ấy, muốn lấy cớ là gạo lương không đủ, để chộp bắt người nước ta. Hanh Thái mật báo cho ta biết. Vì thế không cho binh và voi, chỉ cấp một ít lương, sai quan tải đến Đồng Đăng[28] rồi trở lại”

[bản dịch, tập 2, tr. 197].


“乙亥 - 光泰八年 - 明洪武二十八年 - 六月 [後]

明遣任亨泰等來乞師五萬人象五十篗粮五十萬石搬運至界首以給軍時明人討龍州奉義州叛蠻陰設此計欲托以粮米数不足掩捕國人亨泰密告知之以故不興兵象所給粮不多差官送至同豋而還”

[越史本紀全書 - 卷八 - 頁二十五]


Thông qua ngòi bút của các sử quan, sự kiện ngoại giao này đều được chính quyền Minh và Đại Việt ghi nhận. Biên chép của hai bên cho thấy có sự tương đồng trên đại thể, Minh thực lục chép cụ thể hơn Toàn thư, 3 văn bản [1,2, 3] nói rõ đầu đuôi nội dung sự kiện. Toàn thư chép vắn tắt nhưng cũng nói được nội dung chính của sự kiện.

Nhìn tổng quan, về phía nhà Minh, đây là một vụ quan hệ ngoại giao nhằm vào việc mượn lương thảo nước ngoài để dẹp loạn bên trong, vua Minh không trực tiếp ra chỉ dụ mà uỷ thác cho các sứ giả tự điều đình. Về phía nhà nước Đại Việt - lúc này Hồ Quý Ly nắm quyền – đã mượn nhiều lý do để thoái thác các yêu cầu từ phía nước lớn và chỉ giúp theo kiểu chiếu lệ. Các điểm không đồng nhất trong nội dung nêu trên có 3 chi tiết đáng lưu ý : về ngày tháng; về các đoàn sứ giả ; về số lượng quân, voi, lương. Ngoài ra, một  chi tiết khá đắt giá trong Toàn thư về việc “Hanh Thái mật báo cho ta biết”, tức Hanh Thái cho vua quan nhà Trần biết ý đồ của vua Minh để đối phó, chi tiết này có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đến việc giáng chức Hanh Thái [văn bản 3], mà sử quan nhà Minh đã vì thể diện của mệnh quan thiên triều mà chép lánh sang tội “mua tôi tớ người Man”.

Tổng hợp 3 văn bản Minh thực lục và 1 văn bản Toàn thư, nếu đi sâu tìm hiểu về sự kiện này, chúng ta có đến ít nhất là 3 hướng phân tích: một là, sự quan hệ giữa 2 nước thực chất khá bình đẳng, thấy qua việc vua Minh có thể mượn [lương] và Hồ Quý Ly có thể không cho [chỉ đáp ứng 1/8 nhu cầu]; hai là, con số về 50 vạn binh lính và 50 voi [Minh thực lục không chép] cùng sai số quá lớn về lương thảo yêu cầu [8 vạn (theo Minh thực lục)/50 vạn (theo Toàn thư)], điểm này sử quan nhà Minh e ngại không chép hay sử quan Đại Việt chép phóng lên? ; ba là, có hay không các yêu sách riêng của mấy sứ giả nhà Minh, một loại quan lại lợi dụng công vụ đầu cơ hưởng lợi ?

Có đến vài mươi sự kiện liên quan đến vấn đề ngoại giao và chiến tranh được Minh thực lụcToàn thư ghi chép, những điểm tương đồng và dị biệt về cùng một sự kiện phần lớn tương tự như 2 trường hợp nêu trên, việc sử quan bị chi phối/tác động bởi chủ nghĩa quốc gia hay tinh thần dân tộc là điều không thể tránh khỏi, tuy nhiên việc hệ thống và phân tích các tình tiết và số liệu còn lại từ 2 phía có thể là hướng giải toả một số nghi vấn lịch sử.


5. Những bổ túc cần thiết từ Minh thực lục cho Đại Việt sử ký tòan thư và những điểm cần lưu ý khi khảo cứu hai nguồn sử liệu


Trong rất nhiều sự kiện, Minh Thực lục chép rộng hơn Toàn thư, đây là điểm có thể dựa vào để hiểu rõ thêm những vấn đề mà Toàn thư chỉ nêu vắn tắt, cũng do chép rộng về quá trình diễn biến nên Minh thực lục còn là nguồn sử liệu bổ túc trong việc biên soạn lại thông sử Việt Nam. Trong một số trường hợp Minh Thực lục chép khác với Toàn thư , do vậy rất có ích cho việc khảo chứng cục bộ đối với Toàn thư.

Quá trình kê cứu sơ bộ cho thấy có nhiều văn bản Minh Thực lục liên quan đến giai đoạn nhà Hồ được chép khá kỹ, nhất là về quan chế. Nhân vật thời Hậu Trần và các thủ lĩnh địa phương khởi nghĩa trước Lê Lợi vốn gây nhiều phiền phức cho bộ mấy cai trị/đô hộ nên cũng được ghi nhận khá chi tiết, nhiều nhân vật không thấy chép trong Toàn thư.

Trong thời thuộc Minh thì hẳn nhiên là Minh Thực lục ghi chép tường tế hơn Toàn thư, nhất là về địa lý hành chính. Thí dụ như văn bản ngày 1 tháng 6 năm Vĩnh Lạc 5 (1407) về việc thiết lập các cơ quan quản lý hành chánh ở Giao Chỉ như các kho tàng, ty, cục thuế khóa: “Lập kho Vĩnh Doanh tại ty Bố chánh Giao Chỉ. Lập ty đặc trách về y học và Tăng cang tại phủ Giao Châu. Làm trại nuôi ngựa trạm Phong Doanh và kho lúa Vĩnh Phong tại sông Lô… Dựng trường Nho học tại châu Gia Lâm. Lập ty thuế khóa tại 4 phủ Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Kiến Bình. Lập cục thuế khóa tại 8 châu Phúc An, Tam Đái, Từ Liêm, Lợi Nhân, Gia Lâm, Vũ Ninh, Bắc Giang, Tuyên Hóa. Lập cục thuế khóa tại 20 huyện…..5 địa phương….”[29] , [設交阯布政司永盈庫交州府醫學僧綱司瀘江馹豐盈倉…嘉林州儒學交州北江諒江建平四府稅課司福安三帶慈廉利仁嘉林武寧北江宣化八州稅課局….二十縣稅課局…] nhiều văn bản tương tự mang hình thức chép lại nguyên văn các chỉ dụ hoặc quyết định của cơ quan hữu trách về việc bổ nhiệm quan chức và dựng đặt cơ quan, cải đổi địa danh hành chính trên đất Giao Chỉ/An Nam. Đối với dạng sử liệu này, trong hoàn cảnh các quyết định/công văn ở văn khố- nguồn mà Minh Thực lục dựa vào - không còn nữa thì chúng được xem là loại sử liệu trực tiếp [hoặc sử liệu đầu tiên], tức là ở cấp độ cao nhất trong giá trị tham khảo.

Ngoài ra, là vấn đề liên quan đến sắc tộc Thái ở vùng tây bắc Đại Việt nơi giáp giới đất Miến Điện, Lão Qua, phản ánh tình trạng lấn cấn đất đai phức tạp nhiều đời giữa các lãnh địa, mặt khác sự phụ thuộc không ổn định của họ vào một nhà nước lớn hơn [hoặc nhà Minh hoặc Đại Việt] đã đưa đến nhiều sự vụ phức tạp nơi vùng biên giới.

Minh thực lục chép rõ về ngày- tháng- năm của từng sự kiện lớn và nhỏ, trong khi Toàn thư chỉ chép ngày- tháng- năm cho những sự kiện lớn. Minh thực lục chép rõ số liệu thuộc nhiều lĩnh vực, có những con số tưởng như là thông tin lẻ tẻ  lại khá quan trọng, như số liệu về các lần trưng thuế bằng tiền bạc hoặc sản vật với bảng kê chi tiết. Thí dụ như một văn bản vào tháng 12 năm Vĩnh Lạc 15, chép: “Giao Chỉ dâng lên 1.252 tấm [lụa] quyên, 3.000 lông chim thúy, 10.000 cái quạt, 2.400 cân sơn”[30] [ 交阯上共絹千二百五十二疋翠羽三千扇一萬漆二千四百斤], loại văn bản tương tự như văn bản này khá nhiều, chúng cho các thông tin về tình hình tài chính thuế khóa thời thuộc Minh, hoặc là tư liệu về kỹ nghệ chẳng hạn. Loại sử liệu về tị nạn chính trị với vài chục văn bản chép về các nhân vật từng cộng tác với nhà Minh trong thời gian đô hộ, sau cuộc chiến đã dẫn bộ thuộc và gia quyến sang định cư hẳn ở Trung Quốc, đại để như: “Nha môn quan quân Giao Chỉ thuộc vệ Trấn Di, bọn chỉ huy đồng tri Vũ Hiếu Tiên 95 người tâu xin ở tại kinh đô [Bắc Kinh] cư trú. Hoàng thượng mệnh hành tại bộ Lễ lấy theo lệ người phương bắc đến hàng, ban cho các vật như y phục , lụa, tiền…”[31] [ 交阯鎮夷衞等衙門土官指揮同知武孝先等九十五人奏願在京居住上命行在禮部倚迤北來降人栵賜金織装衣…] đối với những thông tin loại này, các tác giả Toàn thư không thu thập được. Nhìn chung, nhiều ghi chép trong Minh thực lục ngoài việc bổ túc cho thông sử còn là những tư liệu góp phần vào việc nghiên cứu chuyên đề như nghiên cứu lịch sử xã hội, lịch sử kinh tế tài chính v.v…

Nghiên cứu nguồn sử liệu Minh Thực lục đòi hỏi phải nghiên cứu về quan điểm chép sử (Lịch sử quan) đương thời, sự tác động của các quân chủ và mức độ ảnh hưởng của loại sử liệu Minh Thực lục đối với các sử phẩm sau này dùng tư liệu từ nguồn Minh thực lục như Minh sử chẳng hạn.

Mức độ khả tín của các loại văn bản rất cần được xem xét, chúng có sự khác nhau, việc phân loại và tuyển chọn sử liệu cần dựa trên phương pháp coi trọng khảo cứ thực chứng và tính hợp lý của toàn mạch các thực lục. Việc này đòi hỏi quá trình đầu tư nghiên cứu lâu dài, từng bước có thể phân định đúng/sai, chính xác/không chính xác, loại nào (hay cụ thể hơn là văn bản nào) có thể sử dụng và sử dụng cho loại hình/ trường hợp nào.

Có nhiều trường hợp phải căn cứ vào Minh Thực lục để cải chính những nhầm lẫn sai lầm trong sử Việt, như tên người Trung Hoa, địa danh Trung Hoa thì chúng ta phải thừa nhận Toàn thư hoặc Khâm định Việt sử thông giám cương mục[32] chép sai, nếu khác Minh Thực lục và ngược lại tên người Việt, địa danh Việt thì phải căn cứ nguồn sử liệu Việt để cải chính Minh Thực lục.

Mặc dù các nhà sử học thời Trung Hoa Dân quốc đã làm công việc hiệu khám rất cẩn thận, nhưng đối với các nơi ngoài Trung Quốc vẫn còn nhiều chỗ sai lầm, cần phải dựa vào các nguồn sử liệu các quốc gia/ địa phương được đề cập để tiếp tục cải chính. Đương thời, các sử quan nhà Minh  đã có những biểu hiện tuỳ tiện khi chép về những nơi họ chưa biết đến.[33]


6. Kết luận

Trong tham luận này, chúng tôi đã trích dẫn và phân tích đối chiếu những ghi chép cùng một sự kiện về quan hệ sử giữa Việt Nam và Trung Quốc, với mục đích cho thấy những “cái nhìn” khác nhau trong sử liệu hai nước và phần nào đặc trưng về mối quan hệ hai nước Việt - Trung. Hẳn nhiên, không thể chỉ với một sự kiện mà chúng ta có thể nêu ra được đặc tính của mối quan hệ Việt –Trung, vì thế, thông qua tham luận này, chúng tôi nhấn mạnh tính liên tục của những nghiên cứu tương tự, để có được cái nhìn khách quan hơn về lịch sử giao lưu văn hóa trong khu vực văn hóa Đông Á. Các sử gia / các sử quan ở mỗi thời đại không thể không chịu chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa quốc gia hay ý thức hệ chính trị. Chính vì vậy, chúng ta cần có nhiều hơn những nghiên cứu đối chiếu các nguồn sử liệu để tiến đến gần sự thật hơn. Ý nghĩa học thuật mà chúng tôi hướng đến trong loại nghiên cứu này là mở rộng hơn lãnh vực nghiên cứu quan hệ sử và giao lưu văn hóa trong lịch sử các nước cùng khu vực.

Tham luận “Khảo sát những ghi chép về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong Đại Việt sử ký toàn thưMinh thực lục” này hoàn thành với mong muốn giúp phần nào thấy được diện mạo giao lưu - ngoại giao của Việt Nam và Trung Quốc thời nhà Minh, đặc biệt qua sử liệu thời nhà Minh. Nghiên cứu này đặc biệt quan trọng, bởi nó đã giúp chúng ta nhìn lịch sử và sự thật lịch sử bằng “con mắt khác” với quan điểm và định kiến của nền chính sử nước nhà - cụ thể, là qua con mắt chính sử Trung Quốc - mà mỗi nền chính sử luôn định hình bằng các định kiến, điểm nhìn cụ thể.

Trong mối quan hệ giao lưu học thuật giữa hai nước Việt – Hàn, nghiên cứu này cho chúng ta rất nhiều gợi ý và hướng triển khai đề tài quan trọng, điển hình như sau:

- Thứ nhất, vấn đề biên cương, lãnh hải - vốn là đề tài nóng bây giờ - được nhìn qua Minh thực lục như thế nào?

- Thứ hai, qua Minh thực lục, quan hệ ngoại giao Trung Quốc – Triều Tiên thời bấy giờ như thế nào? Có thể khai thác những ghi chép tương đồng nào giữa Minh thực lụcTriều Tiên vương triều thực lục[34]? Trong thực lục giữa hai nước Trung Quốc và Hàn Quốc, có đề cập đến những vấn đề trọng yếu gì và cụ thể như thế nào?

- Thứ ba, khi có những đối chiếu cần thiết về những ghi chép tương quan giữa Việt Nam, Hàn Quốc với Trung Quốc qua các bộ thực lục hay sử thư giữa các nước, ta có thể trả lời được câu hỏi: “Trung Quốc đã nhìn vấn đề giao lưu, ngoại giao (theo nghĩa rộng của từ này) giữa mình với Việt Nam và Hàn Quốc ra sao?” Dưới góc độ văn hóa, nhân văn, có những điểm nào trọng yếu nào cần nghiên cứu? Những sai lệch nào cần tìm hiểu và phản biện?

- Thứ tư, từ Minh thực lục, Thanh thực lục được biên dịch và giới thiệu ở Việt Nam, tiến tới thực hiện những đối chiếu với thực lục của Hàn Quốc, sử thư của Nhật Bản… nhằm vẽ ra bối cảnh lịch sử thời đại mà các nước trong khu vực có những sở hữu chung? Từ đó, cắt nghĩa những dị biệt và sai lệch về cách viết lịch sử theo cái nhìn của mỗi nước?


Thư mục tham khảo.


A. Tài liệu Trung Quốc

1. 中央研究院歷史語言研究 所, 『明實錄』, 台 北, 1962- 1966.

2. 中央研究院歷史語言研究 所, 『明實錄校勘記(同上)』, 台北, 1962- 1966.

3. 張廷玉, 『明史(清)』, 中華書局, 北京, 2003.

4. 谷應泰,  『明史紀事本末 - (清)』, 中華書局, 北京, 1977.

5. 趙爾巽, 『清史稿(民 國)』, 中華書局, 北京, 2003.

6. 謝貴安, 『明實錄研究』, 湖北人民出版社, 2003.

7. 張德信, 『明朝典制』, 吉林文史出版社- 長春, 1996.

8. 吳柏森, 明實錄類纂, 軍事史科卷, 武漢出板社- 1993.

9. 鄭若曾, 『安南圖說(明)』,青刻本- 東京- 早稻田大學圖書館藏.

10.梁啟超, 『中國历史研究法 & 新史学』, 中國現代學學术經典, 河北教育出版社, 石家莊, 1996.

11. 鄧廣銘(主 編), 『中國历史研究知識手冊』, 河南人民出版社, 1990.

13. 黃卓越, 桑思奮 (主編)『中國大書典』, 中國書店出版社, 河北, 1994.

14. 鄭天挺、吳澤、楊 志 玖(主 編)『中國历 史大辭典』, 上海辭書出版社, 2000.

15. 陳慶麒, 『中國大事年表』, 商務印書館, 香港, 1964.

16. 方詩銘, 『中國历史紀年表』, 海辭書出版社, 1980.

17. 薜仲三, 歐陽頣 , 『兩千年中西歷對照表』, 合編商務印書館-香港, 1961.

18. 譚其驤, 『中國历史地圖集、元、明時期』, 地圖出版社- 上海, 1982.

19.『中國知识地圖冊』, 山東省地圖出版社, 2009

20. 臧勵龢、『中國古今地名大辭典』, 商務印書館, 上海, 1933.

21. 鄭天挺, 吳澤, 楊志玖 (主編), 『中國历史大辭典』, 上海辭書出版社, 2000.

22. 夏征農 , 『大辭海、中國古代史卷』,上海辭書出版社, 2008.

23. 辭海 - 『上海辭書出版社』, 2003. [Từ Hải, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 2003.]

24. 上海, 『辭源商務印書館』, 上海, 1937


B. Tài liệu tiếng Anh

25. Geoff Wade, 『Ming Shi-lu as a source for Southeast Asian History.

(http://epress.nus.edu.sg/msl)

[Geoff Wade, Minh Thực lục, một nguồn sử liệu Đông Nam Á,  Trần Công Khanh(쩐꽁칸) 역- Phạm Hoàng Quân (范篁君) 주, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (연구와 발전 잡지), sở Khoa học và công nghệ Thừa Thiên Huế(트어티엔 후에의 과학기술청), số 1, 2, 3 (78, 79, 80) 2010. (2010년의 1,2,3호 (78, 79, 80호))

C. Tài liệu Việt Nam

26. Sử thần đời Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính , chú thích và khảo chứng, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, (4 tập). Nguyên văn chữ Hán, tập IV, bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), nxb KHXH, Hà Nội, 1993.

27. Minh thực lục, quan hệ Trung Quốc- Việt Nam thế kỷ XIV- XVII, Hồ Bạch Thảo dịch và chú thích - Phạm Hoàng Quân hiệu đính, bổ chú và giới thiệu, nxb Hà Nội, 2010. (3 tập)

28. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục(欽定越史通鑑綱目), Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp dịch, nxb Giáo dục, 2007.

29. Quốc sử quán triều Nguyễn,  Đại Nam nhất thống chí, 大南一統誌[bản Duy Tân thứ 3 (1910)], Nguyễn Tạo và nhiều người dịch, Nha Văn hóa, Sài Gòn, 1959 – 1970; Đại Nam nhất thống chí, [bản  triều Tự Đức], Phạm Trọng Điềm dịch- Đào Duy Anh hiệu đính,  nxb Thuận Hóa, Huế,  1992.

30. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu, Sài Gòn, 1971.

31. Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, nxb Văn Sử học, Sài Gòn, 1970.

32. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, nxb Thuận Hóa, Huế, 1994.

33. Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, nxb Văn hóa Thông tin, 2002.

34. D.G.E. Hall, Đông Nam Á sử lược, Nguyễn Phút Tấn dịch, Khai trí, 1968.

35. Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, nxb Giáo dục, 2001.

36. Viện Sử học, Lịch sử Việt Nam tập 3, thế kỷ XV-XVI, nxb Khoa học xã hội, H, 2007.

37. Nguyễn Bá Trác, Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, Nhà in Đắc Lập, Huế, 1925.

(阮伯卓- 皇越甲子年表- 啟定十年(1925) - 中圻承天得立印館奉印.)

38. Viện Sử học, Biên niên Lịch sử cổ trung đại Việt Nam,  nxb Khoa học xã hội, H, 1987.

39. Viện Sử học, Việt Nam những sự kiện lịch sử từ khởi thủy đến 1858, nxb Giáo dục, 2006.




[1] Bản Hàn ngữ của tham luận khoa học này được NCS. Bùi Phan Anh Thư (Hàn Quốc học, Đh quốc tế Hồng Bàng, đại diện duy nhất đến từ ĐH Việt Nam) bổ sung những chú thích cần thiết cho đối tượng học giả Hàn Quốc và báo cáo tại “Hội thảo quốc tế giao lưu văn hóa Đông Á” (International Academic Conference on East Asian Culture) (do ba trường ĐH Yeonsei (Hàn Quốc), ĐH Nantong (Trung Quốc) và ĐH Meiji (Nhật Bản) phối hợp tổ chức) diễn ra vào ngày 16-17/02/2011 tại Đại học Nantong, Thượng Hải, Trung Quốc.

Sau đó, bản Việt ngữ (NNC. Phạm Hoàng Quân) và bản Hàn ngữ trên cùng được công bố tại “Hội thảo quốc tế về nghiên cứu nhân văn học Việt Nam – Hàn Quốc 2011(HBUI & SWU International Academic Conference on Humanities) (do trường Đại học quốc tế Hồng Bàng (HBUI) và Đại học nữ Seoul (SWU) đồng tổ chức) diễn ra vào ngày 15-16/06/2011 tại Đại học quốc tế Hồng Bàng.

[2] Theo Tạ Qúy An, Minh Thực lục nghiên cứu, Hồ Bắc Nhân dân xuất bản xã,   2003.   謝 貴 安-  明 實 錄 研 究 - 湖北人民出版社- 2003


[3] Theo Trung Quốc Đại thư điển, Hoàng Trác Việt – Tang Tư Phấn chủ biên, Trung Quốc thư điếm xuất bản, Hà Bắc, 1994. (Minh Thực lục, tr. 201-202). 中國大書典 - 黃卓越, 桑思奮 (主編) - 中國書店出版, 河北, 1994.

[4] Thành 宬: Nơi cất chứa sách. Đời Minh lập Hoàng Sử Thành 皇 史 宬trong đại nội để lưu trữ ngự bút các vua tiền triều cùng với Thực lục và mật điển .[theo Khang Hi tự điển]

[5] Theo Tạ Qúy An, sđd

[6] Thanh Sử cảo, quyển 146, Nghệ Văn chí 2, Sử bộ, Tạp sử loại – Bản in Trung Hoa Thư cục – 2003 – tr. 1476, 1477. 清史稿 - 卷一百四十六, 藝文志二, 史部,雜史類.- 中華書局, 2003.

[7] Ngoài 4 bộ thời kỳ đầu gắn liền với bài viết,  9 bộ nối tiếp theo là: 5/ Anh Tông Thực lục 英 宗 實 錄, 361 quyển, chép sự việc triều Chính Thống 正 統 (1436-1449), Cảnh Thái 景 泰 (1450-1456), Thiên Thuận 天 順 (1457 – 1464). Anh Tông Thực lục do Lý Hiền 李 賢làm Tổng tài, làm xong năm Thành Hóa thứ ba (1467). 6/ Hiến Tông Thực lục 憲 宗 實 錄, 293 quyển, chép sự việc triều Thành Hóa 成 化 (1465 – 1487), do Lưu Cát 劉 吉làm Tổng tài, làm xong năm Hoằng Trị thứ tư (1491). 7/ Hiếu Tông Thực lục 孝 宗 實 錄, 224 quyển, chép sự việc triều Hoằng Trị 宏 治 (1488 – 1505), do Lưu Kiện 劉 健, Tiêu Phương 焦 芳làm Tổng tài, làm xong năm Chính Đức thứ tư (1509).  8/ Võ Tông Thực lục 武 宗 實 錄, 197 quyển, chép sự việc triều Chính Đức 正 德 (1506 – 1521), do Phí Hoằng 費宏làm Tổng tài, làm xong năm Gia Tĩnh thứ tư (1525).  9/ Thế Tông Thực lục 世 宗 實 錄, 566 quyển, chép sự việc triều Gia Tĩnh 嘉 靖 (1522 – 1566), do Trương Cư Chính 張 居 正 làm Tổng tài, làm xong năm Vạn Lịch thứ năm  (1577). 10/ Mục Tông Thực lục 穆 宗 實 錄, 70 quyển, chép sự việc triều Long Khánh 隆 慶(1567 – 1572), do Trương Cư Chính làm Tổng tài. làm xong năm Vạn Lịch thứ hai (1574). 11/ Thần Tông Thực lục 宗 實 錄, 594 quyển, chép sự việc triều Vạn Lịch 萬 歷 (1573 – 1620), do Cố Bỉnh Khiêm 顧 秉 謙làm Tổng tài, làm xong năm Sùng Trinh thứ ba (1630). 12/ Quang Tông Thực lục 光 宗 實 錄, 8 quyển, chép sự việc triều Thái Xương 泰 昌 (1620), ban đầu do Diệp Hướng Cao 葉 向 高làm tổng tài, sau do Cù Duy Hoa 霍 維 華sửa lại, làm xong năm Thiên Khải thứ ba (1623). 13/ Hy Tông Thực lục 熹 宗 實 錄, 84 quyển, chép sự việc triều Thiên Khải  天 啟 (1621 – 1627), do Ôn Thể Nhân 温體仁làm Tổng tài, làm xong khoảng cuối niên hiệu Sùng Trinh (1634, 1635).

[8] Hai mươi bốn bộ sử được liệt vào loại chính sử gồm: 1. Sử Ký 史 記 (Hán, Tư Mã Thiên漢 。司 馬 遷), 2. Hán Thư 漢 書 (Đông Hán, Ban Cố 東 漢 。班 固), 3. Hậu Hán Thư 後 漢 書 (Tống, Phạm Diệp宗。范 曄), 4. Tam Quốc Chí 三 國 志 (Tấn, Trần Thọ晉。陳 壽), 5. Tấn Thư 晉 書 (Đường, Phòng Huyền Linh唐。房 玄 齡), 6. Tống Thư 宗 書 (Lương, Thẩm Ước梁。沈 約), 7. Nam Tề Thư 南 齊 書 (Lương, Tiêu Tử Hiển梁。蕭 子 顯), 8. Lương Thư 梁 書  (Đường, Diêu Tư Liêm唐。姚 思 廉), 9. Trần Thư 陳 書 (Đường, Diêu Tư Liêm唐。姚 思 廉), 10. Ngụy Thư 魏 書 (Bắc Tề, Ngụy Mục北 齊。魏 牧), 11. Bắc Tề Thư 北 齊 書 (Đường, Lý Bách Dược唐。李 百 藥), 12. Chu Thư 周 書 (Đường, Lệnh Hồ Đức Phần唐。令 狐 德 棻), 13. Nam Sử 南 史 (Đường, Lý Diên Thọ唐。李 延 壽), 14. Bắc Sử 北 史 (Đường, Lý Diên Thọ唐。李 延 壽), 15. Tùy Thư 隋 書 (Đường, Ngụy Trưng唐。魏 徵…), 16. Cựu Đường Thư 舊 唐 書 (Hậu Tấn, Lưu Hú後 晉。劉 昫), 17. Tân Đường Thư 新 唐 書 (Tống, Âu Dương Tu – Tống Kỳ宗。歐 陽 修), 18. Cựu Ngũ Đại Sử 舊 五 代 史 (Tống, Tiết Cư Chính宗。薛 居 正), 19.  Tân Ngũ Đại Sử 新五 代 史(Tống, Âu Dương Tu宗。歐 陽 修), 20. Tống Sử 宗 史 (Nguyên, Thoát Thoát/Thác Khắc Thác元。脫 脫), 21. Liêu Sử 遼 史 (Nguyên, Thoát Thoát元。脫 脫), 22. Kim Sử 金 史 (Nguyên, Thoát Thoát 元。脫 脫), 23. Nguyên Sử 元 史 (Minh, Tống Liêm明。宗 濂), 24. Minh Sử 明 史 (Thanh, Trương Đình Ngọc清。張 廷 玉).

[9] “Nhâm thân, năm thứ 15 [1272] ( Tống Hàm Thuần 宋-咸淳năm thứ 8 ; Nguyên Chí Nguyên 元-至元năm thứ 9). Mùa xuân tháng giêng, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu là Lê Văn Hưu vâng chỉ soạn xong bộ Đại Việt sử ký, từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng, cộng 30 quyển, dâng lên, vua xuống chiếu khen ngợi.” (tập 2, tr.39), [nguồn,  coi chú thích 16].

[10] “Ất hợi, Diên Ninh 延寧năm thứ hai [1455] (Minh, Cảnh Thái 景泰thứ 6). Sai Phan Phu Tiên soạn Đại Việt sử ký từ thời Trần Thái tông cho đến khi người Minh về nước.” (tập 3, tr.163).

[11] Ngô Sĩ Liên “Biểu dâng sách Đại Việt sử ký toàn thư” viết năm Hồng Đức洪德 thứ 10 [1479]. ( Toàn thư, tập I, tr. 19-20).

[12] Theo Phan Huy Lê, “Đại Việt sử ký toàn thư, tác giả-văn bản-tác phẩm”, in trong bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư (dịch theo bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 - Nội các quan bản), nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

[13] Theo Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - tập I, nxb Văn Hoá, Hà Nội, 1984. ( tr.73).

[14] Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, Trần Nghĩa – Francois Gros chủ biên, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. (tập I, tr.527).

[15] Theo Trần Văn Giáp, sđ d, tr.75.

[16] Long Châu 龍 州, huyện, nay thuộc địa khu Sùng Tả崇左, Khu Tự trị Choang Quảng Tây [Quảng Tây Tráng tộc tự trị khu./ 廣西壯族自治區, sẽ viết tắt là: Quảng Tây], giáp tỉnh Cao Bằng 高平(Việt Nam).

[17] Việc đem quân hỏi tội Triệu Tông Thọ cũng chép trong Minh sử, Quyển 319, Liệt truyện 207, Quảng Tây Thổ ty 3, tr. 8262 – 8266.

[18] Trần Nhật Côn, sử Trung Quốc gọi vua Trần Thuận Tông.

[19] Các hạ, tiếng gọi tôn kính đối với người làm việc trong chính phủ, trên chỉ Hanh Thái.

[20] Hồ Quý Ly 胡季犛còn có tên là Hồ Đê hoặc Lê Nhất Nguyên

[21] Lâm An臨安, tên phủ, thuộc Vân Nam, phía nam giáp giới tỉnh Lào Cai 老街 (Việt Nam)

[22] Bằng Tường凭祥/Píngxiáng , thị xã thuộc thành phố [cấp địa khu] Sùng Tả của Quảng Tây. Thị xã Bằng Tường giáp với tỉnh Lạng Sơn 諒山 (Việt Nam).

[23] Đà Hải giang沲海江, tức con sông nối Khâu Ôn và Long Châu, ở địa phận Việt Nam gọi là sông Khâu Ôn.

[24] Khâu Ôn 丘溫, tên đất, thuộc tỉnh Lạng Sơn. Khâu Ôn sau đổi tên thành Châu Ôn, đặt làm huyện, huyện Châu Ôn thuộc tỉnh Lạng Sơn, ở vị trí gần tỉnh lỵ. Nay thuộc phần đất huyện Cao Lộc 高禄, tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam).

[25] Hướng Vũ 向 武, thổ châu,  nay nằm trong vùng đất các huyện Thiên Đẳng 天等, Đại Tân 大新, thành phố Sùng Tả 崇左, Quảng Tây 廣西 (Trung Quốc).

[26] Hành nhân 行人, chức quan thuộc bộ Lễ, chuyên trách việc ngoại giao.

[27] Phụng Nghị 奉議 , [văn bản Toàn thư chép sai là Phụng Nghĩa奉義], thổ châu, nay là huyện Điền Dương 田陽, thành phố Bách Sắc 百色巿, Quảng Tây (Trung Quốc).

[28] Đồng Đăng同登, đất thuộc tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam), giáp huyện Bằng Tường (Trung Quốc).

[29] Minh Thái Tông thực lục, quyển 68, tờ 5-6 [ 明太宗實錄- 卷六十八- 頁 五, 六]

[30] Minh Thái tông thực lục, quyển 195, tờ 3 [明太宗實錄- 卷一九五 -頁三]

[31] Minh Tuyên tông thực lục, quyển 43, tờ 7-8 [明宣宗實錄- 卷 四十三 - 頁 七, 八].

[32] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, 欽定越史通鑑綱目, sách do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, làm xong năm 1881, khắc in năm 1884. Gồm 2 phần Tiền biên và Chính biên, cộng 52 quyển. Chép việc từ thời Hùng Vương đến năm 1789. Bản Việt văn hoàn chỉnh do Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp dịch, Viện Sử học xuất bản năm 1960.( Hà Nội).

[33] Qua văn bản ngày mùng 1 tháng giêng năm Hồng Vũ thứ 26 [12/2/1393] (Minh Thái tổ thực lục, quyển 224, tờ 1- 明太祖實錄 - 卷二二四 - 頁一) thấy được cách biên chép thiếu trật tự về địa lý hành chánh đối với các khu tự trị vùng biên giới tây nam Trung Hoa, các thổ phủ, thổ châu, thổ ty thuộc 4 tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên , Quý Châu bị xếp đặt lẫn lộn, mặt khác lại đặt lẫn lộn các khu tự trị này xen lẫn với các quốc gia Triều Tiên, An Nam, Tiêm La, cho thấy kiến thức của các sử quan nhà Minh rất lơ mơ.

[34] Triều Tiên vương triều thực lục là hệ thống sử thư theo thể biên niên(編年體 史書), tổng cộng 2077 quyển. Năm 1413 (đời Thái Tông năm thứ 13), lần đầu tiên biên soạn Thái Tổ thực lục太祖實錄, đến năm 1865 (đời Cao Tông năm thứ 2), hoàn thành Triết Tông thực lục哲宗實錄chép về đời vua thứ 25 . Triều Tiên vương triều thực lục được chỉ định làm “Quốc bảo” (국보, 國寶, National Treasure) số 151 vào ngày 31/12/1973.  Bộ thực lục này chưa từng được giới học giả Việt Nam khai thác nghiên cứu. Đây là một hệ thống sử liệu đồ sộ và có ý nghĩa rất lớn trong hệ thống sử liệu bán đảo Triều Tiên.