Theo “Đại Công báo” (Hồng Công) ngày 7/8, xét về lâu dài, để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam), Trung Quốc ngoài việc cần có lực lượng cảnh sát và quân sự, cơ bản hơn là cần tiến hành khai thác kinh tế. Thiết lập thành phố Tam Sa chính là nhằm tạo ra khung hành chính hoàn chỉnh hơn, thuận tiện cho việc thực hiện công tác bảo vệ và khai thác. Tuy nhiên, cuối cùng vẫn phải tìm kiếm phương án và phương thức khai thác có hiệu quả cao, đồng thời cũng cần nghiên cứu nhiều hơn nữa về mảng công tác này. 
Gần đây, có doanh nghiệp của Trung Quốc mời đấu thầu khai thác dầu khí ở vùng biển ngoài khơi Việt Nam, đoàn thuyền cá của tỉnh Hải Nam đã đến vùng biển quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) để đánh bắt cá, đó là những ví dụ rõ ràng trong việc kết hợp khai thác và bảo vệ chủ quyền, những hành động như vậy sau này cần ngày càng nhiều hơn. Xét về lâu dài, cần có kế hoạch khai thác toàn diện hơn và chuyên sâu hơn, và cần bao gồm các nội dung: phân khu vực thiết kế bản đồ khai thác; phân ngành nghề chế định phương án khai thác; và cung cấp hạ tầng cơ sở và dịch vụ cơ bản mà khai thác cần. 
Xét về khu vực, Biển Đông có diện tích rộng lớn, từ Bắc xuống Nam dài khoảng 2.000 km, từ Đông sang Tây rộng khoảng 1.000 km, cần phải hoạch định khu vực, căn cứ các tình hình khác nhau để thiết kế bản đồ khai thác. Khu vực phía Bắc là từ Hồng Công đến 15 vĩ độ Bắc, đây là khu vực khá gần với lục địa Trung Quốc và bao gồm phần thềm lục địa, nên được ưu tiên khai thác. Khu vực giữa từ 15 vĩ độ Bắc xuống 13 vĩ độ Bắc, bao gồm các quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam), Trung Sa và đảo Hoàng Nham/bãi cạn Panatag (Scarborough)…, có thể sử dụng các đảo bãi làm cơ sở để khai thác. Khu vực phía Nam là vùng biển quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) từ 12 vĩ độ Bắc xuống 5 vĩ độ Bắc, đây là khu vực có diện tích rộng lớn nhất và xa xôi nhất, đồng thời cũng là nơi tập trung các tranh chấp quốc tế, cần có phương án xử lý đặc biệt. Ngoài ra, giữa khu vực giữa và khu vực phía Nam có một vùng biển sâu, độ sâu đạt tới 4.000 m trở lên, cần xử lý sau. 
Xét từ góc độ ngành nghề, khu vực Biển Đông - nhất là các vùng biển có đảo bãi - trong lịch sử là ngư trường của ngư dân Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Công và Ma Cao), riêng vùng biển Nam Sa đã có khoảng 500 tàu cá tác nghiệp lâu dài. Tới đây, ngoài việc tiếp tục mở rộng phát triển nghề cá, còn cần phát triển các ngành nghề khác, bao gồm: 
Một là, nuôi trồng thủy sản trên biển, trên cơ sở đánh bắt cá hiện nay phát triển thêm nuôi thủy sản và trồng tảo biển. Mấy năm gần đây, Trung Quốc đã tiến hành thí điểm nuôi trồng thủy sản tại đảo Mỹ Tế (đảo Vành Khăn của Việt Nam) ở quần đảo Nam Sa, và đã cải tạo các tàu cá lớn để tiện cho việc chi viện công tác nuôi trồng thủy sản ở đây. Hiện không còn vướng mắc gì liên quan kỹ thuật cơ bản, song vẫn cần nghiên cứu để mở rộng sản lượng và nâng cao hiệu quả. Ngoài ra, tỉnh Hải Nam cũng có kế hoạch xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học nuôi trồng thủy sản tại khu vực đá ngầm nước nông ở Trung Sa. 
Hai là, phát triển du lịch. Các đảo bãi ở Biển Đông có thể phát triển du lịch tàu biển, có thể khai thác thăm quan du lịch bảo vệ sinh thái và hoạt động trên biển, ngoài ra cũng cần thông qua xây dựng sân bay trên biển để khai thác du lịch đường không. Làm du lịch không chỉ là phát triển ngành nghề, nó còn giúp tăng cường nhận thức lãnh thổ và ý thức bảo vệ chủ quyền của người dân. 
Ba là, khai thác biển sâu. Đáy Biển Đông có tài nguyên dầu khí phong phú, các nước xung quanh mượn sự hỗ trợ của các công ty nước ngoài đã tiến hành khai thác. Trung Quốc cần phải dựa vào năng lực khai thác tự chủ mới không sợ bị nước ngoài ép. Hiện nay, có được năng lực khai thác biển sâu đều là các công ty dầu khí phương Tây, tại các khu vực biển có tranh chấp, phương hướng chính trị của các công ty này khó xác định, cũng có thể chịu sự can thiệp của các nước Âu, Mỹ. Gần đây, Việt Nam có mời công ty của Ấn Độ tham gia khai thác, song Ấn Độ lại không nắm được các kỹ thuật liên quan, biết là khó làm nên muốn rút lui, song phía Việt Nam vẫn chưa đồng ý. Mới đây, Trung Quốc đã tuyên bố hàng loạt đột phá trong nghiên cứu chế tạo tự chủ các thiết bị công trình biển sâu, bao gồm thiết bị lặn Giao Long, giàn khoan biển sâu Dầu mỏ Hải Dương 981 có thể tác nghiệp ở độ sâu 3.000 m… cho thấy Trung Quốc đã thực lực tự chủ khai thác tài nguyên biển sâu, và đã bố trí các thiết bị này ở khu vực phía Bắc Biển Đông. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã nghiên cứu chế tạo thành công tàu biển chuyên thăm dò và khai thác băng cháy và tàu này cũng đã được vận hành tại Biển Đông.

nguồn